Tuesday, October 29, 2019
Sự thật sau những tác phẩm để đời - Kỳ
7: Đi tìm vợ chồng A Phủ
TTO - Chuyện về "Vợ chồng A Phủ"
trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Tô Hoài đối với người Hồng Ngài vẫn như một
huyền thoại.
Hang A Phủ ở Hồng Ngài được viết là nơi A Phủ trú lánh - Ảnh: THÁI LỘC
A Phủ ở đâu?
Người Mông ở Hồng Ngài bảo, ngày xưa, xưa
lắm, A Phử (nguyên mẫu của nhân vật A Phủ) với Mỉ (nhân vật Mị) chạy trốn khỏi
nhà thống lý ở xã Hang Chú, sang Hồng Ngài cùng huyện Bắc Yên, Sơn La.
Họ sống ở hang Thông, tức thông qua một
đỉnh núi ở Hồng Ngài, rồi theo kháng chiến. Hang Thông giờ được gọi là hang A
Phủ. Chính quyền xã đã mở lối đi để khách du lịch tham quan.
Chúng tôi đến xã Hồng Ngài, "quê
hương" của nhân vật trong truyện Vợ chồng A Phủ, thuộc huyện Bắc Yên. Chủ
tịch xã Mùa A Chồng bảo người cao tuổi trong bản vẫn kể chuyện A Phử (tức A Phủ
trong truyện) dám chống lại thống lý, giúp cách mạng, giúp người Mông đòi được
đất, không phải làm phận con trâu, con ngựa.
Theo ông, A Phử và Mỉ đã đến Hồng Ngài,
phát cây làm nương, lên rừng đuổi con hổ, con trăn, không cho nó bắt dê của dân
bản. Lâu lắm rồi, chuyện A Phử chỉ được kể bên bếp lửa trong những ngày đông.
A Phử giờ ở đâu? Con cháu ra sao? Ông
Chồng lắc đầu: "Ngày xưa chiến tranh, không ai dám nhận con cháu A Phử cả.
Quan Pháp biết được, nó bắt. Hòa bình rồi, có một vài người nhận nhưng việc xác
minh rất khó".
Chỉ tay lên núi cao trước ủy ban xã, ông
tỏ vẻ nắm rõ chuyện: Ngày xưa A Phử dẫn Mỉ chạy theo sống núi, đến khi hết núi,
nơi có con suối lớn đổ vào sông Đà thì dừng lại dựng lán để ở. Nơi ấy giờ là
bản Lung Tang - bản cuối cùng của xã Hồng Ngài. Đến Lung Tang là hết đường, con
ngựa cũng không qua được suối.
Ông Chồng kể tiếp hồi đó, bên bờ suối ấy
có hai người tay chân của thống lý đến tận nơi tìm A Phử. Chúng là người Tàu,
biết võ, thống lý thuê để đi bắt A Phử.
Hai bên đánh nhau bên bờ suối. A Phử vốn
rất khỏe, đánh nhau với hai người. Người Mông không biết kết quả bên nào thắng,
chỉ thấy cây cỏ bên suối chết rạp vì bị quần nát. Cả ba sang bên kia suối Bàu,
từ đó không ai có tin tức về A Phử nữa.
Con đường hơn 20km từ trung tâm xã đến bản
Lung Tang vắt vẻo trên đỉnh núi, hai bên vực sâu hút mắt. Người Lung Tang bảo
trong bản có người là con cháu A Phử, giờ vẫn còn sống. "Nó là Lầu A Lia,
cháu nội của Lầu A Phử. Giờ nó già hơn 60 tuổi rồi, nhưng nó khỏe như con trâu
to của bản" - Mùa Thị Súa, một người trong bản, nói.
A Lia đã là một trong những người cao tuổi
ở bản, nhưng còn khỏe, rắn rỏi như hòn đá núi. A Lia uống cạn bát rượu rồi kể
với khách: "Ông nội tên là Lầu A Phử, nghe bố A Lia kể lại thì ông A Phử
quê gốc ở Tà Xùa, sang Hồng Ngài lập bản. Ông A Phử có cái bụng thẳng như cây
thông trong rừng.
Ngày xưa khổ lắm, không có cái nhà tốt để
ở, không có ruộng, không có cái ăn. Nghe các cụ bảo, bọn phìa, bọn thống lý lại
bắt nộp thuế, đi lính. Không có tiền nộp thì nó đánh. Cách mạng về, các cụ đi
theo nên mới được sống như giờ". A Phử giúp cách mạng và sau này làm cán
bộ xã Hồng Ngài.
Ông Mùa A Chồng cũng xác nhận ông A Phử ở
bản Lung Tang chỉ có nhiều điểm giống với A Phử chứ không phải nguyên mẫu nhân
vật A Phủ của Tô Hoài. Bởi lẽ, Lầu A Phử và Mỉ quê Tà Xùa, vẫn còn mồ mả người
thân bên đó, chứ không phải quê Hang Chú như trong truyện...
Cụ Đinh Tôn là người kể chuyện cho nhà văn Tô Hoài viết Vợ chồng A Phủ - Ảnh: THÁI LỘC
Người kể chuyện cho Tô
Hoài
"Tôi chính là nhân vật A Châu, cũng
là người kể chuyện cho anh Tô Hoài để viết nên truyện Vợ chồng A Phủ" - cụ
Đinh Tôn nói ngay khi chúng tôi lần được manh mối và tìm đến ngôi nhà sàn gỗ ở
tiểu khu 2, thị trấn Bắc Yên, Sơn La.
93 tuổi, nhanh nhẹn và minh mẫn, cụ Tôn kể
chuyện mấy mươi năm trước mà tươi mới như đang diễn ra trước mắt. Tháng 8-1950,
Đinh Tôn được phân công làm bí thư chi bộ 99 - một đơn vị hành chính tại Bắc
Yên ngày nay. Lúc ấy, vùng đất này có vị trí trọng yếu chính trị lẫn quân sự.
Nhiệm vụ của Tôn là xây dựng đội du kích, tuyên truyền người dân...
Để chuẩn bị thành lập Khu tự trị Thái -
Mèo (Mông), đầu thập niên 1950, ông Đinh Tôn biết tiếng Mông được phân công
điều tra nguồn gốc, đời sống dân tộc Mông trong vùng. "Ngày đó, điều tra
để biết họ đến từ đâu, ăn ở, sinh hoạt như thế nào? Rồi cuộc đấu tranh sinh tồn
của họ với thiên nhiên, đấu tranh chống phong kiến, giai cấp...".
Trong cuộc điều tra này, ông được một
người Mông tên Giàng A Cở kể lại câu chuyện Lầu A Phử - một chàng trai Mông
mạnh khỏe ở xã Hang Chú (cách Hồng Ngài hơn 20km). A Phử và Mỉ muốn lấy nhau
nhưng thống lý Mùa Giảng Cở không cho.
Gã còn lấy cớ bắt vạ, bắt A Phử phải ở đợ
trả nợ. Không chịu áp bức, A Phử và Mỉ dắt nhau trốn về Hồng Ngài. Chưa có nhà,
chưa có ruộng, đôi trai gái sống tạm ở hang Thông, trên đỉnh một ngọn núi ở bản
Hồng Ngài...
"Hồi đó, anh Tô Hoài lên làm việc, vì
tôi biết tiếng Mông nên lãnh đạo huyện cử dẫn anh đi trong khoảng một tháng.
Tôi kể anh nghe rất nhiều chuyện, trong đó có chuyện A Phử và Mỉ. Ít lâu sau
thấy có truyện gửi lên huyện xem qua, và sau đó thì cử đoàn lên làm phim Vợ
chồng A Phủ, tôi cũng là người dẫn đoàn đi" - cụ Đinh Tôn kể.
Nhưng cụ cũng không biết nhiều hơn về
chuyện A Phử và Mỉ sau này. Bởi khi cụ nghe Giàng A Cở kể chuyện thì họ đã chết
nhiều năm trước đó. Sau này, cụ Tôn có ý gặp lại để hỏi chuyện thì ông Cở cũng
đã qua đời.
Cũng theo cụ Tôn, truyện của Tô Hoài khi
đưa lên huyện xem trước, nhân vật lấy nguyên tên họ Lầu A Phử và thống lý Mùa
Giảng Cở. Lãnh đạo huyện và ông Tôn đề nghị nhà văn điều chỉnh vài chi tiết,
trong đó gọi chung chung là A Phủ - nhân vật tiêu biểu cho thế hệ đấu tranh
chống phong kiến.
Còn thống lý Mùa Giảng Cở trước đó tàn ác,
nhưng sau nghe theo cách mạng và ủng hộ rất nhiều. Cái tên Pá Tra được đề nghị
thế vào có nguyên mẫu là thống lý rất tàn ác ở Mù Cang Chải (Yên Bái), sau cách
mạng chạy dạt sang Lào làm thổ phỉ.
Ngoài ra, trong truyện của Tô Hoài, vợ
chồng A Phủ gặp đội trưởng du kích A Châu ở Hồng Ngài, được tuyên truyền theo
cách mạng chính là chi tiết nhà văn hư cấu.
Bởi lẽ, A Châu chính là cụ Đinh Tôn. Còn
nguyên mẫu A Phử và Mỉ, theo cụ Tôn, thì họ đã chết trước Cách mạng Tháng Tám
(1945) khá lâu trước khi Đinh Tôn được nghe người ta kể chuyện để rồi kể lại
cho Tô Hoài viết...
"Câu chuyện của A Phủ, Mị trong cuộc
đấu tranh với thống lý tàn ác đều có thật, do chính tôi thu thập từ thực tế và
kể lại cho anh Tô Hoài viết nên truyện Vợ chồng A Phủ. Tất nhiên, nhà văn có
thay đổi, hư cấu một số điểm cho phù hợp với hoàn cảnh lúc ấy, kể cả việc lấy
tôi làm nguyên mẫu cho nhân vật A Châu trong đó" - cụ Đinh Tôn.
Monday, October 28, 2019
Sự thật sau những tác phẩm để đời - Kỳ 6: Sự thật ở thôn Vỹ
Sự thật sau những tác phẩm để đời - Kỳ
6: Sự thật ở thôn Vỹ
TTO - “Sao anh không về chơi thôn Vỹ? -
Nhìn giá nhà lên giá đất lên - Vườn ai tuốt luốt sâu trong hẻm - Sáng mở mắt ra
hóa mặt tiền…”.
Phủ Ba Cửa, nơi thờ Tuy Lý vương Miên Trinh, một thân vương - thi gia nổi tiếng ở thôn Vỹ - Ảnh: THÁI LỘC
Nhìn giá nhà lên, giá đất lên
Ông Nguyễn Hoài Phương, chủ tịch UBND
phường Vỹ Dạ, TP Huế, kể: "Chừng 20 năm trước, chúng tôi ngồi lai rai tại
một quán ở Vỹ Dạ bàn chuyện đất đai đang nóng sốt: vườn này cắt chia con cháu,
vườn kia được giá xẻ bán cho người ta, phố phường mở rộng, hẻm ra mặt tiền...
Thế rồi tự nhiên hình thành mấy câu thơ "chế" Đây thôn Vỹ Dạ".
Đến thôn Vỹ, sông Hương vẫn xanh biêng
biếc để dải đất thơ nổi tiếng này nương vào... Từ trung tâm TP Huế qua khỏi đập
Đá cạnh Hương giang, tuyến đường Nguyễn Sinh Cung khởi đầu thôn Vỹ với đôi dãy
nhà phố lô nhô cao thấp, bán buôn nhộn nhịp.
Tiếp tục xuôi theo con đường này, rất
nhiều nhà hàng, khách sạn và hàng quán nối tiếp xen kẽ với nhiều ngôi từ đường,
nhà xưa có cổng phủ cổ kính.
Anh bạn cùng tôi dạo khắp thôn Vỹ, vốn
lâng lâng thơ Hàn Mạc Tử, đặc biệt là bài Đây thôn Vỹ Dạ, đã thất vọng khi khó
được "Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên/ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc/ Lá
trúc che ngang mặt chữ điền…". Mà chỉ thấy phố phường chật hẹp, đông
đúc.
"Mần chi còn mấy thứ nớ mà tìm chú!
Giá đất cao quá, mỗi mét vuông mặt tiền Nguyễn Sinh Cung ni có nơi lên tới
70-80 triệu đồng, chí ít cũng 40-50 triệu mà không có để mua" - bà chủ
quán nước đoạn gần phủ Ba Cửa (Tuy Lý vương) kéo anh bạn về thực tại.
Phường Vỹ Dạ gần trung tâm thành phố, bị
đô thị hóa mạnh quá. Đầu thập niên 1990, đường Nguyễn Sinh Cung được mở rộng;
năm 1995 đường mở rộng thêm. Đôi hàng cây sanh, bồ đề cổ thụ, những cổng phủ
rêu phong cổ kính, mấy hàng cau, bờ tre trúc, dãy chè tàu tỉa tót hay giậu
hoa... phần lớn bị thay bằng nhà cửa mặt phố.
Lần Vỹ Dạ thay da đổi thịt dữ dội nhất vào
năm 1998, khi đô thị mới Nam Vỹ Dạ đầu tiên của Huế hình thành ngay trên 80ha
đất ruộng cạnh bên. Từ một tuyến đường chính chạy xuyên suốt, cả Vỹ Dạ được
định hình 42 tuyến đường trải nhựa; ruộng đồng được san lấp thành phố, hẻm mở
thành đường, nhà cửa san sát...
Theo ông Lê Văn Phú - phó chủ tịch UBND
phường Vỹ Dạ, ở đây từng trải qua mấy đợt đất đai "sốt sần sật", giá
tăng liên tục. Cũng tại quá gần trung tâm thành phố, người ta đổ xô về mua đất
làm nhà trong làn sóng không cưỡng được. Những khu vườn rộng thênh, số bị tách
thửa phân lô cho con cháu, số chia năm xẻ bảy bán đi.
"Cả phường Vỹ Dạ nay hiếm còn khu nhà
vườn nào đúng nghĩa, đáp ứng theo tiêu chí nhà vườn của tỉnh Thừa Thiên Huế nữa
rồi!" - vị phó chủ tịch phường lạc giọng.
Còn trong ký ức
Những người "muôn năm cũ" ở cố
đô vẫn tiếc nuối về sự mỹ miều, thơ mộng của rẻo đất hồn thơ đã mất đi. Riêng
ông Phương nhớ như in đường Nguyễn Sinh Cung (Thuận An xưa) xuyên qua thôn Vỹ
rợp bóng cây sanh và bồ đề, hai bên là từng khu nhà vườn nối tiếp vườn, rồi
cổng phủ với từng dãy chè tàu phẳng phiu hay tre trúc, giậu hoa...
"Cái thời điện còn đêm tắt đêm tỏ,
vào những đêm hè trăng sáng, lứa thanh niên chúng tôi đi bộ lên đập Đá hóng
gió, ngắm trăng thanh. Vườn tược hồi ấy cực kỳ xanh mát" - ông tiếc nuối
kể.
Tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa, trong dòng ký
ức về thôn Vỹ thủa trước: "Ngày hai buổi ôm cặp đi về, tôi thường ngắm
nhìn những ngôi nhà ẩn mình sau những chòm cây xanh ngắt, dõi mắt theo bóng
dáng tiểu thư khuê các ẩn hiện sau hàng rào chè tàu được sắp thẳng tắp hoặc thơ
thẩn dưới những giàn hoa màu tím, màu xanh thiên lý...". Đó chính là hồn
đất hồn người đã tạo nên những lời thơ tuyệt vời của Hàn Mạc Tử:
"Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?".
Thực ra, cảnh sắc xanh ngọc, yên bình của
Vỹ Dạ may ra còn gặp ở khu cồn Hến nổi giữa sông Hương. Hòn đảo vốn là yếu tố
"tả thanh long" phong thủy kinh thành này rộng hơn 20ha, dài hơn cây
số chạy suốt chiều dài thôn Vỹ, chứa trên mình hơn 1.000 nóc nhà, chủ yếu lụp
xụp nép dưới cây xanh. Đầu phía đập Đá, ngay trung tâm TP Huế nhà cửa có đông
đúc. Còn phần phía hạ lưu dân cư thưa vắng, vườn tược rộng rãi, có nhiều đất
bãi để vun xới bầu bí, gieo trỉa "bắp lay"...
Theo ông Phương, sở dĩ nhà cửa khu vực cồn
Hến ít xây dựng, cảnh quan ít thay đổi bởi vướng Quy hoạch khu dịch vụ cao cấp
nghỉ dưỡng cồn Hến do UBND tỉnh Thừa Thiên Huế phê duyệt từ năm 2005. Nếu không
cảnh quan cũng "xong" lâu rồi.
Thôn Vỹ nương theo dòng Hương xanh biếc - Ảnh: VĂN ĐÌNH HUY
Đất vương giả - đất thi ca
Ở Huế có khá nhiều tuyến đường tập trung
những phủ đệ của các ông hoàng bà chúa, hay dinh thự của các quan lại quyền cao
chức trọng thời vương quyền. Tuy nhiên, rẻo đất Vỹ Dạ phía đông, bên kia sông
Hương xôm tụ hơn cả. Có thể kể phủ của ba vị con trai Thế tổ Gia Long là Định
Viễn quận vương (con trai thứ 6), Quảng Uy công (con trai thứ 10) và An Khánh
vương (con trai thứ 12) cùng nhiều dinh thự con cháu các vị này.
Đặc biệt nổi bật là phủ Tuy Lý vương -
Nguyễn Phúc Miên Trinh, con trai thứ 11 của Thánh tổ Minh Mạng. Tuyến đường
cũng có nhiều dinh thự của các bậc quyền quý dòng Tôn Thất, các quan đại thần
hay danh gia vọng tộc Nguyễn Khoa...
Với cái tên Vỹ Dạ, rất có thể điểm xuất
phát của nó có liên quan đến văn thơ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng người Huế đọc
"trại" Vỹ Dạ từ cái tên Vy Dã ban đầu. Rằng, người con thứ 11 của
Thánh tổ Minh Mạng là Tuy Lý vương Nguyễn Phúc Miên Trinh, chọn đất thơ này khi
còn là "vy dã" (tạm hiểu là cánh đồng lau lách mọc đầy) ven sông
Hương để lập phủ.
Vị thân vương là nhà thơ lớn, nổi tiếng,
nằm trong bộ tứ "Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán/Thi đáo Tùng, Tuy thất
thịnh đường" (tạm hiểu: so văn Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát thì thời Tiền
Hán không là gì cả; so thơ Tùng Thiện vương, Tuy Lý vương đến Đường thi cũng
chẳng là gì). Biệt hiệu Vy Dã lão nhân của vị thân vương/thi nhân khởi sự từ
đó.
Dân gian vùng Huế lại có cách giải thích
nôm na, thậm chí "tếu táo". Chủ tịch UBND phường nói luôn: cái tên Vỹ
Dạ xuất phát từ sự hưng thịnh văn chương thơ phú của rẻo đất. Kèm giải thích:
vỹ là cái đuôi (của loài vật), dạ là đêm, vỹ dạ là cuối đêm rạng sáng. Thôn Vỹ
là nơi các tao nhân mặc khách, ông hoàng bà chúa "đầy túi" thơ ca,
thường tổ chức những cuộc giao du đàn ca xướng hát thâu đêm...
Cách hiểu nôm na không phải không có lý
do, bởi không chỉ có nhà thơ lớn Tuy Lý vương Miên Trinh, kể từ thời cận đại
đến nay, vùng đất được tiếng thịnh vượng văn chương nghệ thuật này sản sinh và
tụ hội biết bao tao nhân mặc khách, tên tuổi nổi tiếng…
Vỹ Dạ nên thơ với Hàn Mạc Tử
"Sao anh không về chơi thôn Vỹ?...
Dẫu đấy chỉ là một lời mời, một câu hỏi hay lời trách móc đầy tự tình thầm lặng
của người con gái Huế thì thơ Hàn Mạc Tử và bóng dáng Hoàng Cúc cũng đã làm cho
Vỹ Dạ trở thành chốn không quên và Huế thành nơi để nhớ đời như lầu Hoàng Hạc,
chùa Hàn Sơn, hồ Leman, cầu Mirabeau... gắn liền với địa danh và tên tuổi của
Thôi Hiệu, Trương Kế, Lamartine, Appolinaire..." –
TRẦN KIÊM ĐOÀN
Sunday, October 27, 2019
Sự thật sau những tác phẩm để đời - Kỳ 5: "Sao anh không về chơi thôn Vỹ?"
Sự thật sau những tác phẩm để đời - Kỳ
5: "Sao anh không về chơi thôn Vỹ?"
TTO - Hàn Mạc Tử (*) qua đời, để lại bài
thơ bất hủ Đây thôn Vỹ Dạ. Rồi suốt hàng thập niên, biết bao phỏng đoán, bình
luận về bài thơ, "nàng thơ", đặc biệt là chuyện tình "nàng
thơ" và chàng thi sĩ tài hoa bạc mệnh... Đâu là sự thật về mối tình này?
Danh thiếp Hàn thi sĩ gửi nàng thơ Kim Cúc - Ảnh tư liệu gia đình
Chẳng phải lời mời
Năm 1932, "nàng thơ" Hoàng Thị
Kim Cúc (1913-1989) lọt vào mắt xanh Hàn thi sĩ tại Quy Nhơn, lúc nàng 19, kém
chàng 1 tuổi. Thi sĩ khấp khởi khi biết "nàng thơ" bà con gần với
người bạn Hoàng Tùng Ngâm, lại ở cùng đường gần nhà.
Hai năm sau, Hàn thi sĩ vào Sài Gòn làm
báo, làm thơ, đến năm 1936 thì về lại Quy Nhơn. Nhưng chỉ ít tháng sau, Kim Cúc
rời Quy Nhơn về Huế.
Năm 1939, đang điều dưỡng bệnh phong tại
Quy Nhơn, Hàn Mạc Tử nhận bức ảnh "nàng thơ" gửi tặng và làm bài thơ
Đây thôn Vỹ Dạ đề tặng lại. Sau khi thi sĩ tài hoa mà bạc mệnh "xuống
giếng cùng trăng", cả bài thơ lẫn "nàng thơ" được thêu dệt đủ
đường.
Người bạn của Hàn thi sĩ là Quách Tấn dựa
vào câu đầu "Sao anh không về chơi thôn Vỹ?" mà cho rằng: "Khi
Tử đau nằm ở Quy Nhơn, Hoàng Cúc có gửi vào tặng Tử một phiến ảnh "cô gái
Huế" với lời mời ra chơi Vỹ Dạ. Tạ lòng tri kỷ, Tử gửi lại một bài thơ
nhan đề là Đây thôn Vỹ Dạ".
Tương tự, tác giả Nguyễn Bá Tín, viết về
người anh trai Hàn Mạc Tử sáng tác bài thơ sau khi nhận được bức ảnh bà Kim Cúc
mặc áo trắng đứng sau khóm trúc trong khu vườn ở thôn Vỹ... Thậm chí, có tác
giả còn viết "nàng thơ" từng có "những ngày yêu thương vô cùng
cuồng nhiệt" với Hàn Mạc Tử...
Tuy nhiên, theo tư liệu gia đình bà Kim
Cúc, trong thư gửi Quách Tấn đề ngày 15-4-1971, bà nói rõ: "Thưa ông, bức
ảnh đó chỉ là bức ảnh phong cảnh, chụp ảnh hoàng hôn mua ở phố. Trong ảnh không
có cô gái nào khác ngoài cô chèo đò. Cô gái mà ông hỏi đó là do sức tưởng tượng
của thi nhân... Ngoài trừ bức ảnh phong cảnh đó và bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ thì
Tử và tôi không có thư từ gì cho nhau nữa cả".
Những lần gặp gỡ
Năm 1967, Quách Tấn công bố trên tạp chí
Văn là cha bà Kim Cúc không chấp nhận Hàn Mạc Tử vì "không xứng mặt đông
sàng" (môn đăng hộ đối).
Đọc được sau 4 năm, bà Cúc lẽ ra im lặng
nếu câu chuyện không bị đẩy quá xa: một đoàn hát đã đưa lên sân khấu và vai
diễn cha mẹ đằng gái tỏ ra quá đanh đá, chua ngoa khi từ chối Hàn thi sĩ không
môn đăng hộ đối.
Không cầm lòng, bà Kim Cúc biên thư cho
Quách Tấn trách cứ vài điều nhẹ nhàng, trong đó nói rõ Hàn Mạc Tử và cha không
làm việc cùng nhau, họ không gặp gỡ, quen biết nên không có chuyện chê
"không xứng mặt đông sàng".
Tư liệu gia đình cũng cho biết, tại Quy
Nhơn, sau khi gặp "nàng thơ", Hàn thi sĩ có kế hoạch nhờ bạn Hoàng Tùng
Ngâm làm "chim xanh". Nhưng, nhờ đưa thư, bạn không đưa; gửi gắm nỗi
lòng nhờ kể lể, bạn không kể; làm thơ tình tặng "nàng thơ" gửi đăng
báo, bạn cũng cắt bài thơ đi rồi mới chuyển báo...
Thất vọng, thi sĩ tìm cách chuyển hướng,
nhờ ông Trợ Cát, một người cậu bà con của nàng. Trong một lần đến nhà mục đích
mai mối, ông thấy không ổn nên "lúc ra về bỏ quên bức thư của Tử gửi cho
cậu mà nội dung chỉ nói về chuyện tâm tình của Tử". Thi sĩ, sau đó, tìm
cách đón đường...
Trong thư gửi "cậu mợ Tín" ngày
16-10-1987, bà Kim Cúc kể rõ: "Vào đầu năm 1936... Tử có tới gặp tôi hai
lần. Lần đầu chỉ nói bâng quơ vài câu rồi chào về. Lần thứ hai, Tử mạnh dạn
trong dáng điệu rụt rè, lắp bắp mấy lời tỏ tình, rồi đưa tặng tôi tập thơ Bâng
khuâng với mảnh giấy nhỏ có mấy hàng chữ. Tôi bàng hoàng rồi cũng rụt rè từ
chối, không nhận sách, không nhận thơ".
Cũng trong bức thư này, bà cho biết thêm:
"Gần cuối năm 1936, khi Tử về dự Hội chợ Huế, mang theo một xấp tập Gái
quê vừa in xong, có gặp tôi cùng đi với anh em trong hội chợ. Tử đưa tặng anh
em tôi mỗi người một tập, có đề chữ tặng, không tặng tôi mà chỉ yên lặng nhìn!
Mấy hôm sau Ngâm cho biết Tử có về nhà tôi ở Vỹ Dạ mà lại đứng ngoài ngõ nhìn
vô. Rồi từ ngày đó chúng tôi không gặp nhau lại, không thư từ thăm viếng, hứa hẹn,
mỗi người mỗi ngã"...
Nàng thơ Kim Cúc của Hàn Mạc Tử - Ảnh THÁI LỘC chụp lại
Kim Cúc - nàng có yêu không?
Trở lại thôn Vỹ, chúng tôi hỏi đường đến
tư gia "nàng thơ", bà chủ quán nước nhanh nhẩu: "Mấy anh vào hẻm
chùa Phước Huệ, có biển đề Từ đường Hoàng tộc là nhà bà Kim Cúc đó". Bà
còn "tám" về "cái đám to nhứt Huế" của bà Kim Cúc vào tháng
2-1989: đoàn đưa tang dài 4-5 cây số, xe đầu lên đến đàn Nam Giao rồi mà xe
cuối còn tận Vỹ Dạ.
Bà giải thích, đám to vì bà Kim Cúc vừa là
"nàng thơ", vừa là giáo sư nữ công gia chánh Trường nữ Đồng Khánh,
quan trọng hơn là huynh trưởng cấp "Dũng" - cấp cao nhất trong hàng
huynh trưởng thuộc hệ thống gia đình Phật tử Việt Nam.
Ngôi từ đường cuối hẻm 162 Nguyễn Sinh
Cung, kiểu nửa Âu nửa Á giữa khu vườn rộng. Người giữ từ đường Hoàng Phước
Thiện thắp nhang lên bàn thờ tiền nhân và người cô ruột, kể chuyện xưa: họ
Hoàng gốc gác làng Xuân Tùy (huyện Quảng Điền) lên thôn Vỹ mấy đời trước. Ông
nội anh khi được bổ làm thương tá Sở Đạc điền ở Quy Nhơn, để gia đình lại Huế,
chỉ đưa con gái Kim Cúc theo cùng lo cơm nước.
Ngôi từ đường cũng là nơi sống phần lớn
cuộc đời của cô Kim Cúc cho đến khi mất đầu năm 1989. Người cô từng dạy nữ công
gia chánh Trường nữ Đồng Khánh của Huế, không lập gia đình, dành trọn nhiều năm
cuối đời để làm từ thiện và công tác Phật sự. Cô cũng để lại cho đời nhiều di
cảo thơ văn, đặc biệt là tập sách Nấu món ăn Huế nổi tiếng...
Năm 2013, người cháu Hoàng Thị Quỳnh Hoa
sau khi cất công khảo cứu toàn bộ tư liệu liên quan và thư từ của người cô ruột
đã cho ra cuốn sách Lá trúc che ngang - chuyện tình của cô tôi với rất nhiều tư
liệu mới và bất ngờ. Điều thuận tiện ở chỗ số thư từ ghi nháy hai chữ "để
lại", có nghĩa hầu hết thư từ viết xong, trước khi gửi, "nàng
thơ" cẩn trọng chép một bản lưu.
Tác giả Trần Kiêm Đoàn nhận xét cuốn sách
đã "phản bác những suy diễn đầy tưởng tượng và chứng lý mơ hồ của một số
nhà phê bình văn học tên tuổi"... Trong sách, khi đặt vấn đề "Kim Cúc
có yêu Hàn Mạc Tử không?", tác giả đã không kết luận "không" hay
là "có". Vì hoàn cảnh? Tác giả viết: "Trong một xã hội mà một cô
gái con nhà khuê các không thể nghĩ đến hai chữ yêu đương, không thể tiếp chuyện
với người khác phái ở ngoài đường"...
Theo đó, sau khi thi sĩ qua đời, người em
Hoàng Tùng Ngâm kể lại nỗi lòng Hàn thi sĩ cùng những áng thơ tình dành tặng,
"nàng thơ" Kim Cúc "hết sức cảm kích và vô cùng ngậm ngùi",
đã cảm tác: "...Hồn anh lẩn khuất ở đâu xa/Hoa biết cùng ai thổ lộ ra/Giữa
đời phức tạp thương đau lắm/Vẫn sống an nhiên vẫn đậm đà"...
Bài thơ ra đời tháng 8-1939 (?)
"Xót xa quá, tôi không biết làm gì
khác hơn là viết mấy hàng chữ hỏi thăm sức khỏe Tử, viết mà không ký tên, không
đề ngày, sau tấm ảnh phong cảnh Huế. Rồi mấy tháng sau, Ngâm lại gửi về tôi bài
thơ Ở đây thôn Vỹ Giạ (tên ban đầu của bài thơ - PV) với mấy hàng Tử viết sau
lưng bài thơ vào tháng 8-1939. Giữa Hàn Mạc Tử và tôi chỉ có chừng nấy. Có thể
nói đó là một kỷ niệm đầy thơ mộng của mối tình trong trắng, thanh cao và bất
diệt giữa hai tâm hồn khác tôn giáo" - trích thư Hoàng Thị Kim Cúc gửi
Nguyễn Bá Tín.
Saturday, October 26, 2019
Sự thật sau những tác phẩm để đời - Kỳ 4: Núi Đôi - sự thật đẹp như huyền thoại
Sự thật sau những tác phẩm để đời - Kỳ
4: Núi Đôi - sự thật đẹp như huyền thoại
TTO - Chuyện tình lãng mạn và bi tráng có
thật của cô du kích và anh bộ đội trong bài thơ Núi Đôi của Vũ Cao đã làm lay
động hàng triệu trái tim. Khi người lính trở về, cô gái đã hi sinh và hóa thành
bất tử trong những dòng thơ bi tráng Núi Đôi...
Phần mộ liệt sĩ Bắc giữa vạt cỏ xanh bình yên - Ảnh: VŨ TUẤN
Chiều muộn, những cơn gió dịu và nắng thu
rải vàng trên đồng cỏ. Cánh cổng nghĩa trang liệt sĩ Sóc Sơn (Hà Nội) không lúc
nào đóng cửa. Đám trẻ hay vào đây đạp xe, nhảy dây, chơi chuyền...
Phần mộ liệt sĩ Nguyễn Thị Bắc êm đềm bên
đồng đội, bên những vạt cỏ tranh đang dạt dào như sóng dưới làn gió thu.
Phần mộ chị Bắc cũng là ngôi mộ hiếm hoi
trong nghĩa trang có ảnh chân dung trên bia. Nhìn chị vẫn như thủa đôi mươi
"trẻ nhất làng" với khuôn mặt nhỏ nhắn, đôi mắt dịu hiền và mái tóc
dày.
Ông Trần Văn Nhuận, em trai liệt sĩ Bắc,
cắm những bông cúc vàng lên mộ, rồi đặt lại chiếc gương cho ngay ngắn.
"Ngày xưa, tóc chị tôi đen dài lắm! Bố mẹ tôi từng bảo chị là người con
gái đẹp nhất thôn Đoài".
Chuyện tình đẹp
Làng Xuân Đoài trước kia là thôn Đoài
(thôn phía tây) của làng Xuân Dục. Sau này làng tách ra, người trong vùng quen
gọi là thôn Xuân Đoài. Liệt sĩ Bắc chính là người con gái trong bài thơ Núi Đôi đã đi vào lòng người của tác giả Vũ Cao.
Lời thơ kể về một chuyện tình yêu lãng mạn và bi tráng của cô du kích và anh bộ
đội Trịnh Khanh cùng quê.
Năm 1956, ông Vũ Cao có thời gian công tác
ở sư đoàn 312, đóng quân tại huyện Sóc Sơn, bên cạnh núi Đôi. Tình cờ, ông được
nghe người dân trong vùng kể về chuyện tình xúc động của cô du kích yêu người
chiến sĩ, nhưng khi quê hương không còn bóng giặc, anh lính trở về thì người
yêu của mình đã hi sinh rồi.
Ông Nhuận tâm sự thủa ấy làng Xuân Dục
giáp ranh giữa vùng bị giặc chiếm và vùng tự do. Làng Xuân Đoài nằm bên trái
con đường qua núi Đôi bị chính quyền thực dân lập "vùng trắng", bắt
dân dỡ nhà, dọn về làng Lương Châu gần đó.
Giặc Pháp cũng xây hàng loạt lô cốt ở núi
Đôi để kiểm soát cả đường sắt lẫn đường bộ. Liệt sĩ Bắc là chị cả trong gia
đình có năm anh chị em mà ông Nhuận là con trai thứ ba. Ngày bé, bố mẹ gọi ông
là Bắc để giấu tên chị hoạt động kháng chiến.
"Bố tôi bị giặc bắt lên đồn trên đỉnh
núi Đôi. Chúng tra tấn, bố tôi chỉ khai con gái cả là "Gái", còn tôi
là Bắc. Giặc nghi ngờ chị tôi theo cách mạng từ lâu rồi nhưng không đủ chứng
cứ".
Sự thật, liệt sĩ Bắc đi kháng chiến, được
cử học lớp y tá ở xã Bắc Sơn (huyện Sóc Sơn) rồi quen anh bộ đội Trịnh Khanh
cùng quê. Tình yêu bùng cháy, họ ước hẹn sau khi chiến thắng trận Bắc Hồng
(Đông Anh, Hà Nội) sẽ cưới nhau.
Gia đình ông Nhuận sau này mới biết trước
trận đánh đó, chính trị viên đại đội Trần Quốc Tuấn đã viết thư tay thay cho
công văn đồng ý để anh Khanh về làm đám cưới với chị Bắc. Trong trận đánh chống
địch càn quét ở Bắc Hồng, người chính trị viên này đã hi sinh.
Liệt sĩ Nguyễn Thị Bắc là cô gái đẹp nhất làng - Ảnh VŨ TUẤN chụp lại
Giường cưới là ổ rơm
"Ngày cưới chị, bố tôi đi dân công mở
đường ở Tây Bắc. Mẹ cho tôi vào thúng, gánh lên vùng tự do để dự cưới chị. Tôi
nhớ "phòng hạnh phúc" của chị với anh Khanh không có giường mà chỉ là
một ổ rơm. Cưới xong được hai hôm thì tôi theo mẹ và chị về quê, còn anh Khanh
chuyển căn cứ" - ông rưng rưng nhớ lại.
Chị Bắc về quê được giao nhiệm vụ làm quân
bưu và địch vận. Cô du kích có mái tóc dài đen bóng từng vận động được hai đồn
trưởng mang cả súng về phe kháng chiến. Giặc nghi ngờ nhưng không đủ bằng
chứng.
Đêm 21-3-1954, chị Bắc được giao nhiệm vụ
đưa đoàn cán bộ ra vùng tự do để chuẩn bị trận đánh lớn. Qua núi Đôi, đến ngòi
Đầm Sen thì họ gặp phục kích. Giặc bắt được chị Bắc. Vừa hô to, chị vừa chống
trả để đồng đội phía sau kịp lánh. Giặc bắn một tràng tiểu liên vào ngực chị...
Đêm bi thương ấy, đồng đội đưa chị lên
chôn dưới chân gò Cầu Cồn mà nay thuộc xã Minh Tân, Sóc Sơn. Sau này, chính
những đồng đội ấy cũng trở thành anh em một nhà với liệt sĩ Bắc.
Ông Nguyễn Văn Hội về sau là bố vợ ông Nhuận.
Những người cùng đi có cả cậu, chú, em họ của bà Nguyễn Thị Kim Hòe - vợ ông
Nhuận.
Đến giờ, bà Hoè vẫn còn nhớ như in buổi
sáng sau đêm chị Bắc hi sinh: "Quân Pháp bắt hết dân làng Lương Châu ra
điểm danh. Nhiều người bị chúng bắt giải lên đồn. Dân làng thương chị Bắc lắm
nhưng không ai dám khóc, cũng không khai gì về chị và đồng đội".
Hòa bình lập lại, anh Trịnh Khanh mới về
được quê nhà. Bà Hòe nhớ người lính ấy không về nhà mà lên ngay gò Cầu Cồn để
viếng mộ vợ.
Ở chiến trường, anh Khanh đã nhận được hai
bức thư. Một bức thư của vợ kèm theo một chiếc đồng hồ và một chiếc khăn len kỷ
vật. Một bức thư khác là của gia đình báo tin vợ anh đã hi sinh!
Tình yêu của người chiến sĩ với cô du kích
nảy nở đúng thời gian chiến tranh khốc liệt. Sau các chiến dịch chống càn, mở
rộng vùng địch hậu lại đến chiến dịch Biên giới rồi Điện Biên Phủ. Người lính vệ quốc nén nỗi đau của mình vào nòng súng. Anh đi
hết chiến trường này đến chiến trường khác.
Hòa bình lập lại, anh trở về quê hương thì
người yêu đã mãi mãi hòa xác thân vào lòng đất quê hương.
Sau 20 năm kể từ khi bài thơ Núi Đôi được
viết, tác giả Vũ Cao mới gặp người chiến sĩ trong chuyện thơ của mình. Ông từng
bộc bạch không hiểu sao lại có sự đồng cảm với người lính Trịnh Khanh đến vậy.
"Anh ngước nhìn lên hai dốc núi,
Hàng thông bờ có con đường quen.
Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói.
Núi vẫn đôi mà anh mất em!".
Ông Nhuận run run chòm râu bạc: "Anh
Khanh là anh rể cả của gia đình nhưng cũng là anh trai tôi. Hòa bình lập lại,
chính mẹ tôi là người đã mai mối và hỏi vợ cho anh Khanh".
Từ con rể, anh Khanh trở thành anh cả
trong gia đình người vợ đã mất. Mọi người tin rằng đó cũng là ước nguyện của
hương hồn chị Bắc, chị vẫn mong anh thanh thản tâm hồn và gắn bó với gia đình
mình...
Hàn Mặc Tử qua đời để lại bài thơ bất hủ
Đây thôn Vĩ Dạ làm người đời sau phải đắm mê và đặt bao câu hỏi, đặc biệt là
chuyện tình thi nhân và cô gái Huế. Sự thật thế nào?
"Bảy năm về trước, em mười bảy
Anh mới đôi mươi, trẻ nhất làng
Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa
Bữa thì em tới, bữa anh sang
Lối ta đi giữa hai sườn núi
Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi
Em vẫn đùa anh: sao khéo thế
Núi chồng núi vợ đứng song đôi…".
(Trích
đoạn bài thơ Núi Đôi)
Tác giả Vũ Cao (1922 - 2007) tên thật là
Vũ Hữu Chỉnh. Độc giả biết đến ông là một tác giả với nhiều tác phẩm văn xuôi.
Trước khi sáng tác bài thơ này, ông dự định viết truyện ngắn. Nhưng khi nghe
chuyện thật, cảm xúc ông dâng trào thành thơ.
Khi sáng tác, ông chưa từng gặp người lính
trong câu chuyện, cũng không biết cô du kích ở núi Đôi đã kết hôn với người
lính. Đám cưới của họ diễn ra ở vùng tự do, gia đình lại phải giấu kín vì chiến
tranh.
Gần 20 năm sau, ông gặp người lính Trịnh
Khanh trong một buổi hội thảo. Thế nhưng tâm trạng của nhân vật thật và tâm
trạng tác giả trong bài thơ đồng điệu đến mức phần lớn bạn đọc đều nhầm tác giả
chính là người lính trong chuyện thơ.
NGÀY HIỆN TẠI
Total Pageviews
NHÀ KHỞI NGHIỆP - NHÀ KINH DOANH - TÁC GIẢ - NHÀ SÁNG TẠO - NHÀ VĂN HÓA (*)
ĐỌC NHIỀU
-
[""VIẾT SÁCH & THÀNH CÔNG" - Bạn đã thực sự muốn "Viết một cuốn sách" & "Để lại Di sản" chưa?...
-
"VIỆT NAM - ĐẤT NƯỚC CON NGƯỜI - THIÊN ANH HÙNG CA" (5) Tôi viết bản thiên anh hùng ca, Tặng cho Đất nước - 4000 năm văn hiến. ...
-
"VIỆT NAM - ĐẤT NƯỚC CON NGƯỜI - THIÊN ANH HÙNG CA" (1) Tôi viết bài thơ - ngợi ca Đất Nước, Việt Nam - Một ngôi sao đang lên (...
-
"VIỆT NAM - ĐẤT NƯỚC CON NGƯỜI - THIÊN ANH HÙNG CA" (2) Đất nước mình qua những cuộc chiến chinh, Vẫn vươn lên theo từng con són...
-
"VIỆT NAM - ĐẤT NƯỚC CON NGƯỜI - THIÊN ANH HÙNG CA" (4) Nhìn Đất nước - 4000 năm văn hiến, Luận anh hùng và luận cả Tục - Tiên. ...
-
TÂM THƯ GỬI TÁC GIẢ TƯƠNG LAI – HÔM NAY (23-8-2020) Chào bạn! Tôi có một tin vui dành cho những Nhà kinh doanh chính là sau hơn 7+ năm k...
-
"VIỆT NAM - ĐẤT NƯỚC CON NGƯỜI - THIÊN ANH HÙNG CA" (3) Nhìn Đất nước thênh thang vạn đại, Bước chân đi thắm thoát những triệu n...
-
"VIẾT SÁCH & XUẤT BẢN SÁCH" - CON ĐƯỜNG KIẾN TẠO SỰ THÀNH CÔNG CỦA BẠN! Viết sách không chỉ là một niềm đam mê mà còn là một ...
-
Sự thật sau những tác phẩm để đời - Kỳ 9: Có đến 3 Chí Phèo, 2 Thị Nở ngoài đời TTO - Nam Cao viết truyện Chí Phèo từ nhiều con người t...
-
Viết sách và xuất bản sách – Người giàu nhất thế giới ! Cuốn sách Người Giàu Nhất Thế Giới được viết bởi Tác giả Áp-ra-ham và được ...
DANH MỤC
- Các bước xuất bản sách
- cách xuất bản sách
- Con Người
- công ty xuất bản sách
- ĐÀO TẠO
- Đất Nước
- Làm thế nào để xuất bản sách
- muốn xuất bản sách
- quy trình xuất bản sách
- tác phẩm để đời
- Tập Thơ
- Thiên Anh Hùng Ca
- Thơ
- Thư gửi Tác giả
- tự xuất bản sách
- Việt Nam
- viết sách
- viết sách và thành công
- viết sách và xuất bản sách
- xuất bản cuốn sách của riêng bạn
- xuất bản sách
- xuất bản thơ
Copyright ©
"TỰ DO THỜI GIAN - NHỮNG CÂU CHUYỆN CUỘC ĐỜI" | Bản quyền thuộc về DANH NHÂN VĂN HÓA - HOÀNG GIA
Danh nhân Văn hóa - Hoàng Gia
Danh nhân Văn hóa - Hoàng Gia







