Sunday, October 27, 2019
Sự thật sau những tác phẩm để đời - Kỳ
5: "Sao anh không về chơi thôn Vỹ?"
TTO - Hàn Mạc Tử (*) qua đời, để lại bài
thơ bất hủ Đây thôn Vỹ Dạ. Rồi suốt hàng thập niên, biết bao phỏng đoán, bình
luận về bài thơ, "nàng thơ", đặc biệt là chuyện tình "nàng
thơ" và chàng thi sĩ tài hoa bạc mệnh... Đâu là sự thật về mối tình này?
Danh thiếp Hàn thi sĩ gửi nàng thơ Kim Cúc - Ảnh tư liệu gia đình
Chẳng phải lời mời
Năm 1932, "nàng thơ" Hoàng Thị
Kim Cúc (1913-1989) lọt vào mắt xanh Hàn thi sĩ tại Quy Nhơn, lúc nàng 19, kém
chàng 1 tuổi. Thi sĩ khấp khởi khi biết "nàng thơ" bà con gần với
người bạn Hoàng Tùng Ngâm, lại ở cùng đường gần nhà.
Hai năm sau, Hàn thi sĩ vào Sài Gòn làm
báo, làm thơ, đến năm 1936 thì về lại Quy Nhơn. Nhưng chỉ ít tháng sau, Kim Cúc
rời Quy Nhơn về Huế.
Năm 1939, đang điều dưỡng bệnh phong tại
Quy Nhơn, Hàn Mạc Tử nhận bức ảnh "nàng thơ" gửi tặng và làm bài thơ
Đây thôn Vỹ Dạ đề tặng lại. Sau khi thi sĩ tài hoa mà bạc mệnh "xuống
giếng cùng trăng", cả bài thơ lẫn "nàng thơ" được thêu dệt đủ
đường.
Người bạn của Hàn thi sĩ là Quách Tấn dựa
vào câu đầu "Sao anh không về chơi thôn Vỹ?" mà cho rằng: "Khi
Tử đau nằm ở Quy Nhơn, Hoàng Cúc có gửi vào tặng Tử một phiến ảnh "cô gái
Huế" với lời mời ra chơi Vỹ Dạ. Tạ lòng tri kỷ, Tử gửi lại một bài thơ
nhan đề là Đây thôn Vỹ Dạ".
Tương tự, tác giả Nguyễn Bá Tín, viết về
người anh trai Hàn Mạc Tử sáng tác bài thơ sau khi nhận được bức ảnh bà Kim Cúc
mặc áo trắng đứng sau khóm trúc trong khu vườn ở thôn Vỹ... Thậm chí, có tác
giả còn viết "nàng thơ" từng có "những ngày yêu thương vô cùng
cuồng nhiệt" với Hàn Mạc Tử...
Tuy nhiên, theo tư liệu gia đình bà Kim
Cúc, trong thư gửi Quách Tấn đề ngày 15-4-1971, bà nói rõ: "Thưa ông, bức
ảnh đó chỉ là bức ảnh phong cảnh, chụp ảnh hoàng hôn mua ở phố. Trong ảnh không
có cô gái nào khác ngoài cô chèo đò. Cô gái mà ông hỏi đó là do sức tưởng tượng
của thi nhân... Ngoài trừ bức ảnh phong cảnh đó và bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ thì
Tử và tôi không có thư từ gì cho nhau nữa cả".
Những lần gặp gỡ
Năm 1967, Quách Tấn công bố trên tạp chí
Văn là cha bà Kim Cúc không chấp nhận Hàn Mạc Tử vì "không xứng mặt đông
sàng" (môn đăng hộ đối).
Đọc được sau 4 năm, bà Cúc lẽ ra im lặng
nếu câu chuyện không bị đẩy quá xa: một đoàn hát đã đưa lên sân khấu và vai
diễn cha mẹ đằng gái tỏ ra quá đanh đá, chua ngoa khi từ chối Hàn thi sĩ không
môn đăng hộ đối.
Không cầm lòng, bà Kim Cúc biên thư cho
Quách Tấn trách cứ vài điều nhẹ nhàng, trong đó nói rõ Hàn Mạc Tử và cha không
làm việc cùng nhau, họ không gặp gỡ, quen biết nên không có chuyện chê
"không xứng mặt đông sàng".
Tư liệu gia đình cũng cho biết, tại Quy
Nhơn, sau khi gặp "nàng thơ", Hàn thi sĩ có kế hoạch nhờ bạn Hoàng Tùng
Ngâm làm "chim xanh". Nhưng, nhờ đưa thư, bạn không đưa; gửi gắm nỗi
lòng nhờ kể lể, bạn không kể; làm thơ tình tặng "nàng thơ" gửi đăng
báo, bạn cũng cắt bài thơ đi rồi mới chuyển báo...
Thất vọng, thi sĩ tìm cách chuyển hướng,
nhờ ông Trợ Cát, một người cậu bà con của nàng. Trong một lần đến nhà mục đích
mai mối, ông thấy không ổn nên "lúc ra về bỏ quên bức thư của Tử gửi cho
cậu mà nội dung chỉ nói về chuyện tâm tình của Tử". Thi sĩ, sau đó, tìm
cách đón đường...
Trong thư gửi "cậu mợ Tín" ngày
16-10-1987, bà Kim Cúc kể rõ: "Vào đầu năm 1936... Tử có tới gặp tôi hai
lần. Lần đầu chỉ nói bâng quơ vài câu rồi chào về. Lần thứ hai, Tử mạnh dạn
trong dáng điệu rụt rè, lắp bắp mấy lời tỏ tình, rồi đưa tặng tôi tập thơ Bâng
khuâng với mảnh giấy nhỏ có mấy hàng chữ. Tôi bàng hoàng rồi cũng rụt rè từ
chối, không nhận sách, không nhận thơ".
Cũng trong bức thư này, bà cho biết thêm:
"Gần cuối năm 1936, khi Tử về dự Hội chợ Huế, mang theo một xấp tập Gái
quê vừa in xong, có gặp tôi cùng đi với anh em trong hội chợ. Tử đưa tặng anh
em tôi mỗi người một tập, có đề chữ tặng, không tặng tôi mà chỉ yên lặng nhìn!
Mấy hôm sau Ngâm cho biết Tử có về nhà tôi ở Vỹ Dạ mà lại đứng ngoài ngõ nhìn
vô. Rồi từ ngày đó chúng tôi không gặp nhau lại, không thư từ thăm viếng, hứa hẹn,
mỗi người mỗi ngã"...
Nàng thơ Kim Cúc của Hàn Mạc Tử - Ảnh THÁI LỘC chụp lại
Kim Cúc - nàng có yêu không?
Trở lại thôn Vỹ, chúng tôi hỏi đường đến
tư gia "nàng thơ", bà chủ quán nước nhanh nhẩu: "Mấy anh vào hẻm
chùa Phước Huệ, có biển đề Từ đường Hoàng tộc là nhà bà Kim Cúc đó". Bà
còn "tám" về "cái đám to nhứt Huế" của bà Kim Cúc vào tháng
2-1989: đoàn đưa tang dài 4-5 cây số, xe đầu lên đến đàn Nam Giao rồi mà xe
cuối còn tận Vỹ Dạ.
Bà giải thích, đám to vì bà Kim Cúc vừa là
"nàng thơ", vừa là giáo sư nữ công gia chánh Trường nữ Đồng Khánh,
quan trọng hơn là huynh trưởng cấp "Dũng" - cấp cao nhất trong hàng
huynh trưởng thuộc hệ thống gia đình Phật tử Việt Nam.
Ngôi từ đường cuối hẻm 162 Nguyễn Sinh
Cung, kiểu nửa Âu nửa Á giữa khu vườn rộng. Người giữ từ đường Hoàng Phước
Thiện thắp nhang lên bàn thờ tiền nhân và người cô ruột, kể chuyện xưa: họ
Hoàng gốc gác làng Xuân Tùy (huyện Quảng Điền) lên thôn Vỹ mấy đời trước. Ông
nội anh khi được bổ làm thương tá Sở Đạc điền ở Quy Nhơn, để gia đình lại Huế,
chỉ đưa con gái Kim Cúc theo cùng lo cơm nước.
Ngôi từ đường cũng là nơi sống phần lớn
cuộc đời của cô Kim Cúc cho đến khi mất đầu năm 1989. Người cô từng dạy nữ công
gia chánh Trường nữ Đồng Khánh của Huế, không lập gia đình, dành trọn nhiều năm
cuối đời để làm từ thiện và công tác Phật sự. Cô cũng để lại cho đời nhiều di
cảo thơ văn, đặc biệt là tập sách Nấu món ăn Huế nổi tiếng...
Năm 2013, người cháu Hoàng Thị Quỳnh Hoa
sau khi cất công khảo cứu toàn bộ tư liệu liên quan và thư từ của người cô ruột
đã cho ra cuốn sách Lá trúc che ngang - chuyện tình của cô tôi với rất nhiều tư
liệu mới và bất ngờ. Điều thuận tiện ở chỗ số thư từ ghi nháy hai chữ "để
lại", có nghĩa hầu hết thư từ viết xong, trước khi gửi, "nàng
thơ" cẩn trọng chép một bản lưu.
Tác giả Trần Kiêm Đoàn nhận xét cuốn sách
đã "phản bác những suy diễn đầy tưởng tượng và chứng lý mơ hồ của một số
nhà phê bình văn học tên tuổi"... Trong sách, khi đặt vấn đề "Kim Cúc
có yêu Hàn Mạc Tử không?", tác giả đã không kết luận "không" hay
là "có". Vì hoàn cảnh? Tác giả viết: "Trong một xã hội mà một cô
gái con nhà khuê các không thể nghĩ đến hai chữ yêu đương, không thể tiếp chuyện
với người khác phái ở ngoài đường"...
Theo đó, sau khi thi sĩ qua đời, người em
Hoàng Tùng Ngâm kể lại nỗi lòng Hàn thi sĩ cùng những áng thơ tình dành tặng,
"nàng thơ" Kim Cúc "hết sức cảm kích và vô cùng ngậm ngùi",
đã cảm tác: "...Hồn anh lẩn khuất ở đâu xa/Hoa biết cùng ai thổ lộ ra/Giữa
đời phức tạp thương đau lắm/Vẫn sống an nhiên vẫn đậm đà"...
Bài thơ ra đời tháng 8-1939 (?)
"Xót xa quá, tôi không biết làm gì
khác hơn là viết mấy hàng chữ hỏi thăm sức khỏe Tử, viết mà không ký tên, không
đề ngày, sau tấm ảnh phong cảnh Huế. Rồi mấy tháng sau, Ngâm lại gửi về tôi bài
thơ Ở đây thôn Vỹ Giạ (tên ban đầu của bài thơ - PV) với mấy hàng Tử viết sau
lưng bài thơ vào tháng 8-1939. Giữa Hàn Mạc Tử và tôi chỉ có chừng nấy. Có thể
nói đó là một kỷ niệm đầy thơ mộng của mối tình trong trắng, thanh cao và bất
diệt giữa hai tâm hồn khác tôn giáo" - trích thư Hoàng Thị Kim Cúc gửi
Nguyễn Bá Tín.
Saturday, October 26, 2019
Sự thật sau những tác phẩm để đời - Kỳ 4: Núi Đôi - sự thật đẹp như huyền thoại
Sự thật sau những tác phẩm để đời - Kỳ
4: Núi Đôi - sự thật đẹp như huyền thoại
TTO - Chuyện tình lãng mạn và bi tráng có
thật của cô du kích và anh bộ đội trong bài thơ Núi Đôi của Vũ Cao đã làm lay
động hàng triệu trái tim. Khi người lính trở về, cô gái đã hi sinh và hóa thành
bất tử trong những dòng thơ bi tráng Núi Đôi...
Phần mộ liệt sĩ Bắc giữa vạt cỏ xanh bình yên - Ảnh: VŨ TUẤN
Chiều muộn, những cơn gió dịu và nắng thu
rải vàng trên đồng cỏ. Cánh cổng nghĩa trang liệt sĩ Sóc Sơn (Hà Nội) không lúc
nào đóng cửa. Đám trẻ hay vào đây đạp xe, nhảy dây, chơi chuyền...
Phần mộ liệt sĩ Nguyễn Thị Bắc êm đềm bên
đồng đội, bên những vạt cỏ tranh đang dạt dào như sóng dưới làn gió thu.
Phần mộ chị Bắc cũng là ngôi mộ hiếm hoi
trong nghĩa trang có ảnh chân dung trên bia. Nhìn chị vẫn như thủa đôi mươi
"trẻ nhất làng" với khuôn mặt nhỏ nhắn, đôi mắt dịu hiền và mái tóc
dày.
Ông Trần Văn Nhuận, em trai liệt sĩ Bắc,
cắm những bông cúc vàng lên mộ, rồi đặt lại chiếc gương cho ngay ngắn.
"Ngày xưa, tóc chị tôi đen dài lắm! Bố mẹ tôi từng bảo chị là người con
gái đẹp nhất thôn Đoài".
Chuyện tình đẹp
Làng Xuân Đoài trước kia là thôn Đoài
(thôn phía tây) của làng Xuân Dục. Sau này làng tách ra, người trong vùng quen
gọi là thôn Xuân Đoài. Liệt sĩ Bắc chính là người con gái trong bài thơ Núi Đôi đã đi vào lòng người của tác giả Vũ Cao.
Lời thơ kể về một chuyện tình yêu lãng mạn và bi tráng của cô du kích và anh bộ
đội Trịnh Khanh cùng quê.
Năm 1956, ông Vũ Cao có thời gian công tác
ở sư đoàn 312, đóng quân tại huyện Sóc Sơn, bên cạnh núi Đôi. Tình cờ, ông được
nghe người dân trong vùng kể về chuyện tình xúc động của cô du kích yêu người
chiến sĩ, nhưng khi quê hương không còn bóng giặc, anh lính trở về thì người
yêu của mình đã hi sinh rồi.
Ông Nhuận tâm sự thủa ấy làng Xuân Dục
giáp ranh giữa vùng bị giặc chiếm và vùng tự do. Làng Xuân Đoài nằm bên trái
con đường qua núi Đôi bị chính quyền thực dân lập "vùng trắng", bắt
dân dỡ nhà, dọn về làng Lương Châu gần đó.
Giặc Pháp cũng xây hàng loạt lô cốt ở núi
Đôi để kiểm soát cả đường sắt lẫn đường bộ. Liệt sĩ Bắc là chị cả trong gia
đình có năm anh chị em mà ông Nhuận là con trai thứ ba. Ngày bé, bố mẹ gọi ông
là Bắc để giấu tên chị hoạt động kháng chiến.
"Bố tôi bị giặc bắt lên đồn trên đỉnh
núi Đôi. Chúng tra tấn, bố tôi chỉ khai con gái cả là "Gái", còn tôi
là Bắc. Giặc nghi ngờ chị tôi theo cách mạng từ lâu rồi nhưng không đủ chứng
cứ".
Sự thật, liệt sĩ Bắc đi kháng chiến, được
cử học lớp y tá ở xã Bắc Sơn (huyện Sóc Sơn) rồi quen anh bộ đội Trịnh Khanh
cùng quê. Tình yêu bùng cháy, họ ước hẹn sau khi chiến thắng trận Bắc Hồng
(Đông Anh, Hà Nội) sẽ cưới nhau.
Gia đình ông Nhuận sau này mới biết trước
trận đánh đó, chính trị viên đại đội Trần Quốc Tuấn đã viết thư tay thay cho
công văn đồng ý để anh Khanh về làm đám cưới với chị Bắc. Trong trận đánh chống
địch càn quét ở Bắc Hồng, người chính trị viên này đã hi sinh.
Liệt sĩ Nguyễn Thị Bắc là cô gái đẹp nhất làng - Ảnh VŨ TUẤN chụp lại
Giường cưới là ổ rơm
"Ngày cưới chị, bố tôi đi dân công mở
đường ở Tây Bắc. Mẹ cho tôi vào thúng, gánh lên vùng tự do để dự cưới chị. Tôi
nhớ "phòng hạnh phúc" của chị với anh Khanh không có giường mà chỉ là
một ổ rơm. Cưới xong được hai hôm thì tôi theo mẹ và chị về quê, còn anh Khanh
chuyển căn cứ" - ông rưng rưng nhớ lại.
Chị Bắc về quê được giao nhiệm vụ làm quân
bưu và địch vận. Cô du kích có mái tóc dài đen bóng từng vận động được hai đồn
trưởng mang cả súng về phe kháng chiến. Giặc nghi ngờ nhưng không đủ bằng
chứng.
Đêm 21-3-1954, chị Bắc được giao nhiệm vụ
đưa đoàn cán bộ ra vùng tự do để chuẩn bị trận đánh lớn. Qua núi Đôi, đến ngòi
Đầm Sen thì họ gặp phục kích. Giặc bắt được chị Bắc. Vừa hô to, chị vừa chống
trả để đồng đội phía sau kịp lánh. Giặc bắn một tràng tiểu liên vào ngực chị...
Đêm bi thương ấy, đồng đội đưa chị lên
chôn dưới chân gò Cầu Cồn mà nay thuộc xã Minh Tân, Sóc Sơn. Sau này, chính
những đồng đội ấy cũng trở thành anh em một nhà với liệt sĩ Bắc.
Ông Nguyễn Văn Hội về sau là bố vợ ông Nhuận.
Những người cùng đi có cả cậu, chú, em họ của bà Nguyễn Thị Kim Hòe - vợ ông
Nhuận.
Đến giờ, bà Hoè vẫn còn nhớ như in buổi
sáng sau đêm chị Bắc hi sinh: "Quân Pháp bắt hết dân làng Lương Châu ra
điểm danh. Nhiều người bị chúng bắt giải lên đồn. Dân làng thương chị Bắc lắm
nhưng không ai dám khóc, cũng không khai gì về chị và đồng đội".
Hòa bình lập lại, anh Trịnh Khanh mới về
được quê nhà. Bà Hòe nhớ người lính ấy không về nhà mà lên ngay gò Cầu Cồn để
viếng mộ vợ.
Ở chiến trường, anh Khanh đã nhận được hai
bức thư. Một bức thư của vợ kèm theo một chiếc đồng hồ và một chiếc khăn len kỷ
vật. Một bức thư khác là của gia đình báo tin vợ anh đã hi sinh!
Tình yêu của người chiến sĩ với cô du kích
nảy nở đúng thời gian chiến tranh khốc liệt. Sau các chiến dịch chống càn, mở
rộng vùng địch hậu lại đến chiến dịch Biên giới rồi Điện Biên Phủ. Người lính vệ quốc nén nỗi đau của mình vào nòng súng. Anh đi
hết chiến trường này đến chiến trường khác.
Hòa bình lập lại, anh trở về quê hương thì
người yêu đã mãi mãi hòa xác thân vào lòng đất quê hương.
Sau 20 năm kể từ khi bài thơ Núi Đôi được
viết, tác giả Vũ Cao mới gặp người chiến sĩ trong chuyện thơ của mình. Ông từng
bộc bạch không hiểu sao lại có sự đồng cảm với người lính Trịnh Khanh đến vậy.
"Anh ngước nhìn lên hai dốc núi,
Hàng thông bờ có con đường quen.
Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói.
Núi vẫn đôi mà anh mất em!".
Ông Nhuận run run chòm râu bạc: "Anh
Khanh là anh rể cả của gia đình nhưng cũng là anh trai tôi. Hòa bình lập lại,
chính mẹ tôi là người đã mai mối và hỏi vợ cho anh Khanh".
Từ con rể, anh Khanh trở thành anh cả
trong gia đình người vợ đã mất. Mọi người tin rằng đó cũng là ước nguyện của
hương hồn chị Bắc, chị vẫn mong anh thanh thản tâm hồn và gắn bó với gia đình
mình...
Hàn Mặc Tử qua đời để lại bài thơ bất hủ
Đây thôn Vĩ Dạ làm người đời sau phải đắm mê và đặt bao câu hỏi, đặc biệt là
chuyện tình thi nhân và cô gái Huế. Sự thật thế nào?
"Bảy năm về trước, em mười bảy
Anh mới đôi mươi, trẻ nhất làng
Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa
Bữa thì em tới, bữa anh sang
Lối ta đi giữa hai sườn núi
Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi
Em vẫn đùa anh: sao khéo thế
Núi chồng núi vợ đứng song đôi…".
(Trích
đoạn bài thơ Núi Đôi)
Tác giả Vũ Cao (1922 - 2007) tên thật là
Vũ Hữu Chỉnh. Độc giả biết đến ông là một tác giả với nhiều tác phẩm văn xuôi.
Trước khi sáng tác bài thơ này, ông dự định viết truyện ngắn. Nhưng khi nghe
chuyện thật, cảm xúc ông dâng trào thành thơ.
Khi sáng tác, ông chưa từng gặp người lính
trong câu chuyện, cũng không biết cô du kích ở núi Đôi đã kết hôn với người
lính. Đám cưới của họ diễn ra ở vùng tự do, gia đình lại phải giấu kín vì chiến
tranh.
Gần 20 năm sau, ông gặp người lính Trịnh
Khanh trong một buổi hội thảo. Thế nhưng tâm trạng của nhân vật thật và tâm
trạng tác giả trong bài thơ đồng điệu đến mức phần lớn bạn đọc đều nhầm tác giả
chính là người lính trong chuyện thơ.
Friday, October 25, 2019
Sự thật sau những tác phẩm để đời - Kỳ 3: Đi tìm 'Cô bé nhà bên'
Sự thật sau những tác phẩm để đời - Kỳ 3: Đi
tìm 'Cô bé nhà bên'
TTO - Từ câu hỏi "Cô bé nhà bên"
là ai, nhà thơ Giang Nam bất ngờ nói ngay: "Đó là vợ tôi". Thi nhân
cho biết xúc cảm "đau xé lòng anh chết nửa con người" xuất phát từ
một... tin báo nhầm.
Giang Nam và vợ con yêu thương ngày ông còn trẻ - Ảnh: THÁI LỘC (chụp lại)
Người vợ hiền chung thủy chính là nguồn
cảm hứng bất tận cho đời thơ của tôi. Bệnh tật và tuổi già đã giằng bà ấy khỏi
tay tôi, đó là nỗi buồn rất lớn. Nhưng tôi luôn lấy hình ảnh của nhà tôi để
tiếp tục làm chỗ dựa cho thơ mình.
Nhà thơ Giang Nam
"Cô
gái nhà bên là vợ tôi"
Nhà
thơ Giang Nam (tên thật Nguyễn Sung, nay 91 tuổi) sống trong ngôi nhà trên
đường Yersin ngay trung tâm thành phố biển Nha Trang, rào cao cổng kín, có giàn
hoa giấy phủ dày.
Tôi
bấm chuông, cô giúp việc bảo cụ có nhà, rồi ra dấu chỉ cụ ông đang ngồi đọc báo
trên thềm hiên. Nhưng vừa nghe giới thiệu khách là nhà báo, cụ huơ tay, lắc đầu
dứt khoát rằng cụ sẽ không nói bất cứ điều gì, rằng có quá nhiều chuyện tế nhị
cụ đã lên tiếng nhiều lần trước đây rồi, giờ thì không nói lời nào nữa...
Thì
ra, vị nguyên lãnh đạo có uy tín của tỉnh Khánh Hòa này thường được báo chí tìm
đến phỏng vấn những khi chính quyền tỉnh nhà gặp "chuyện lình xình".
Không ít lần người ta lợi dụng gán vào cụ những điều mà cụ không hề nói và
không nói như thế...
Tôi
cố gắng phân bua rằng chỉ muốn được tỏ tường bài thơ Quê hương nổi tiếng của
Giang Nam. Cụ mới hồi tâm chế trà, mời khách ngồi ghế, từng mạch chuyện chậm
rãi lần hồi. "Cô gái nhà bên à?", cụ hỏi tôi rồi đột ngột vào nhà,
thắp nén nhang lên bàn thờ và thỉnh di ảnh cụ bà xuống ôm vào lòng.
"Đây,
bà ấy đây, là vợ tôi, mất đã sáu năm rồi". Cụ giới thiệu người vợ mình tên
là Phan Thị Chiều, nhỏ hơn mình hai tuổi, quê ở Cửa Bé (phường Vĩnh Trường, TP
Nha Trang). Đôi mắt nhìn về xa xăm, dòng ký ức oanh liệt và tình yêu lãng mạn
một thời khói lửa chiến tranh quay về trong lão nhà thơ. Cụ tâm sự mình hoạt
động cách mạng năm 1946, rồi gặp cô Chiều xinh đẹp nhất ở Văn phòng Tỉnh ủy
Khánh Hòa hồi ấy đóng tại vùng núi giáp ranh Khánh Hòa, Phú Yên. "Ánh mắt
nhìn và nụ cười khúc khích của cô ấy kể từ đó xâm chiếm lấy tôi" - nhà thơ
kể về tình ý buổi đầu.
Năm
1954, Giang Nam xin không tập kết ra Bắc mà ở lại hoạt động địa phương. Họ ước
hẹn cưới nhau sau khi hiệp thương tổng tuyển cử hai miền Nam - Bắc theo Hiệp
định Genève. Cụ kể: "Tuy nhiên, tổng tuyển cử đã không diễn ra. Do đó năm
1956, chúng tôi cưới nhau tại Lạc An (thuộc thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa giờ).
Đám
cưới đơn sơ, chỉ có ít bánh kẹo và nước trà nhưng vô cùng hạnh phúc và vui vẻ
với đồng đội. Cưới hôm trước thì hôm sau Chiều về lại Vĩnh Trường ở Nha Trang
để hoạt động hợp pháp, còn tôi quay về căn cứ Đá Bàn (Ninh Hòa) tiếp tục kháng
chiến...".
Thơ
chảy ra tâm trạng mất tất cả!
Sau
thời gian công tác bí mật tại các tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên và Bình Định, Giang
Nam được tổ chức đưa ra hoạt động hợp pháp với tên giả Nguyễn Sớm, làm thuê cho
một xưởng cưa ở phía nam cầu Hà Ra (TP Nha Trang). Dù chỉ cách nhà vợ vài cây
số nhưng hai vợ chồng không thể gặp nhau.
Khoảng
1957-1958, một kẻ phản bội chỉ điểm cơ sở cách mạng, cả Giang Nam lẫn vợ phải
vào Nam tiếp tục hoạt động. Duyên phận đưa đẩy họ đoàn tụ tại Đồng Nai.
"Chúng tôi thuê căn nhà lá nhỏ trong một xóm lao động nghèo ở Biên Hòa để
ở.
Hằng
ngày vợ tôi đi bán bánh bò ngoài chợ, còn tôi làm thuê cho một tư sản thầu
khoán người Việt". Người con gái đầu lòng của tình yêu ra đời. Thế rồi,
hạnh phúc chẳng tày gang, Giang Nam được lệnh rút về căn cứ Hòn Dù (Khánh Hòa)
hoạt động. Ít tháng sau ông bàng hoàng trước hung tin vợ con bị bắt và thủ
tiêu.
"Hôm
ấy, anh phó bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa gọi tôi gặp riêng và thông tin rằng vợ và
đứa con gái 10 tháng tuổi của tôi bị bắt bỏ tù năm trước đó tại Sài Gòn, sau bị
chúng thủ tiêu, không tìm thấy xác. Bàng hoàng, đau xót tận cùng và cảm xúc
mãnh liệt, tôi viết Quê hương trong tâm trạng mất hết cả rồi! Viết dưới ánh đèn
dầu tại căn cứ của Tỉnh ủy Khánh Hòa dưới chân núi Hòn Dù" - nhà thơ hồi
tưởng. Bài thơ Quê hương sau khi chuyển ra Hà Nội đã được đăng và trao giải nhì
cuộc thi thơ của Tạp chí Văn Nghệ năm 1961...
Nhà thơ Giang Nam và di ảnh vợ - Ảnh: THÁI LỘC
Người
vợ và... nhiều cô du kích
Tròn
90 tuổi, nhà thơ Giang Nam vẫn khỏe, đi lại chắc chắn mà không cần chống gậy
như lẽ thường tình. Cụ rất minh mẫn và có trí nhớ tuyệt vời, trò chuyện hóm
hỉnh. Dưới mái hiên nhà, bên chén trà và câu chuyện không thôi giữa ký ức và
thực tại xen lẫn, cụ kể chuyện cũ gia đình, chuyện thời trẻ thơ ở quê, tháng
năm kháng chiến...
Cuối
năm 1961, khi đang ở căn cứ tại Củ Chi (TP.HCM), cụ bất ngờ biết vợ con vẫn
còn, đã về quê tại Nha Trang sinh sống an toàn. Tòa án binh không đủ cơ sở buộc
tội bà là vợ cộng sản nên trả tự do ngay tại tòa. "Cái tin sai tạo ra sự
bất ngờ người yêu thương sống lại" - Giang Nam kể cảm xúc lại dâng trào
mãnh liệt và làm tiếp một mạch hai bài thơ: Ngày mai đi đón em và Con còn sống.
Chuyện
đang liền mạch, nhà thơ Giang Nam bỗng tạm dừng để ngâm nga bằng giọng tràn đầy
cảm xúc: "Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường... Cô bé nhà bên (có ai
ngờ)/ Cũng vào du kích/ Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích/ Mắt đen tròn (thương
thương quá đi thôi)... Hôm nay nhận được tin em/ Không tin được dù đó là sự
thật/ Giặc bắn em rồi quăng mất xác/ Chỉ vì em là du kích em ơi!"...
Tôi
thắc mắc nội dung bài thơ hầu như rất ít ăn nhập với nhân vật thật là người vợ,
vì lời thơ không hề có bóng dáng thấp thoáng của vợ con, của hôn nhân, mà chỉ
là cảm hứng từ tình cảm trai gái thoáng qua, yêu trộm nhớ thầm, sau mới gặp
hung tin...
Nhà
thơ cười hóm hỉnh: "Chất liệu để xây dựng hình ảnh cô du kích trong bài
thơ phần lớn lấy từ nguyên mẫu người vợ tôi nhưng không phải nguyên mẫu hoàn
toàn". Cụ kể thêm ở đó còn có hình ảnh, câu chuyện của nhiều cô du kích
khác mà mình từng gặp, từng công tác chung trên đường chiến đấu. "Thời
điểm ấy, nếu viết hẳn là vợ mình thì lộ quá. Mà may nếu tôi viết hẳn nhà tôi
thì có khi lại có chuyện lớn" - nhà thơ cười lớn.
Sau
ngày thống nhất 30-4-1975, Giang Nam mới được đoàn tụ với vợ con ở TP Nha
Trang. Trải qua chiến cuộc khốc liệt, đôi lứa tưởng đã vĩnh viễn chia lìa, nay
được về bên nhau và sống hạnh phúc đến cuối đời.
Trước
chúng tôi cũng có người đến hỏi "Cô bé nhà bên là ai?". Và mai này
chắc vẫn còn người thắc mắc khi ngâm nga bài thơ tràn đầy cảm xúc yêu thương,
bi tráng. Chính những câu hỏi ấy đã làm Quê hương sống mãi trong lòng người...
Cám ơn em
"Đâu
bàn tay mềm trong tay anh chai sạn
Đâu
nụ cười và nước mắt ướt vai anh
Có
phải em từ phía mùa xuân đến
Nâng
từng bước anh đi vượt gian khổ, thác ghềnh
Cám
ơn em và cám ơn mùa xuân
Đã
dành cho anh những gì đẹp nhất
Nhớ
lời dặn của em: "Hãy yêu mùa xuân như buổi đầu ta gặp"
Anh
thấy mình trẻ lại tuổi đôi mươi".
(Trích
bài thơ Cám ơn em, cám ơn mùa xuân - Giang Nam viết tiễn biệt người
vợ Phan Thị Chiều bị bệnh qua đời hôm 15-8-2013)
Thursday, October 24, 2019
Sự thật sau những tác phẩm để đời - Kỳ 2: Xà nu - lễ vật hôn nhân
Sự thật sau những tác phẩm để đời - Kỳ
2: Xà nu - lễ vật hôn nhân
TTO - Người dân xã Xốp, huyện Đắk Glei,
Kon Tum sống giữa trùng điệp núi rừng Vườn quốc gia Ngọc Linh, dùng cây thông
ba lá làm củi, đèn thắp sáng và làm cả lễ vật hôn nhân linh thiêng...
Con cháu cụ Mết
Đó chính là cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
(Nguyên Ngọc). Địa danh gắn liền bối cảnh "làng Xô Man" xưa, nơi hoạt
động của cụ Mết, một nhân vật giàu tình cảm và hùng tráng, có thật giữa đời
thường...
Ngược sơn cước những ngày mưa bão mịt mờ,
người đầu tiên tôi tìm gặp là ông Đinh Như Rươn ở thị trấn Đắk Glei. Ông nói
ngay: "Bố tôi là Đinh Môn, còn gọi A Mết, người Tà Rẻ (còn gọi T’rẻ, Giẻ,
được xếp thuộc dân tộc Giẻ Triêng - PV), nhân vật trong truyện Rừng xà
nu".
Gợi chuyện xưa, ông cho biết cha mình từng
là thủ lĩnh đồng bào trong chiến tranh chống Pháp. Sau Hiệp định Genève 1954,
cụ Mết dẫn người vợ đầu Y Roal và con trai Đinh Như Rươn (2 tuổi) tập kết ra
Bắc.
Năm 1959, đau đáu nhớ núi rừng và cuộc
sống ở "làng Xô Man", cụ Mết được về quê xưa, để lại mộ phần người vợ
cùng con trai đang học hành đất Bắc.
Cụ Mết được giao làm bí thư Huyện ủy H30
cho đến ngày thống nhất 1975. Năm 1976, khi H30 và H40 sáp nhập thành huyện Đắk
Glei, A Mết tiếp tục làm chủ tịch MTTQ huyện cho đến về hưu năm 1980.
Ông cụ mất năm 2000, thọ 87 tuổi. Đến ngày
27-4-2012, cụ được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân.
Ông Rươn lớn lên, theo học ngành y và công
tác ở các bệnh viện miền Bắc, sau chuyển vào Kon Tum làm giám đốc Trung tâm Y
tế huyện Đắk Glei cho đến khi về hưu.
Hiện ông ở cùng con trai Đinh Quốc Tú đang
công tác tại cơ quan cũ của ông. Ông Rươn khoe với tôi về kỷ vật còn lại là cây
kiếm mà người cha luôn đeo bên mình.
Kiếm dài hơn bảy tấc, lưỡi thép nhọn hoắc,
bao gỗ bọc da, trang trí bằng những đường diềm đan dây mây trông rất ấn tượng.
Di ảnh A Mết trên bàn thờ là một bức tranh sơn mài rất có thần thái, được giới
thiệu do cụ Đỗ Mười tặng trước đây...
Vào "làng Xô Man"...
Từ đèo Lò Xo trên đường Hồ Chí Minh, tôi
theo con đường xuyên qua Vườn quốc gia Ngọc Linh để đến làng Xốp Nghét của xã
Xốp (huyện Đắk Glei).
Ngôi làng với dãy nhà nhỏ ven đường ngoằn
ngoèo theo khe suối chạy dài giữa thung lũng này thường được đồng nhất với
"làng Xô Man", quê hương của cụ A Mết trong truyện ngắn Rừng xà nu.
Chiều mưa sơn cước, gặp các cụ già Xốp
Nghét bên bếp lửa rừng thiêng, tôi nghe kể nhiều về A Mết lãnh đạo dân làng vừa
kiên cường qua hai cuộc kháng chiến, vừa rất giàu tình cảm. Họ tâm sự rằng rất
tin A Mết, kể cả sau chiến tranh A Mết xuất hiện, lên tiếng là làm theo.
Thực ra, bối cảnh "làng Xô Man"
trong truyện Rừng xà nu ở cách làng Xốp Nghét hiện nay rất xa.
Tác giả Văn Công Hùng tìm thăm bối cảnh
làng xưa cùng chính nhà văn Nguyên Ngọc cho biết đã không tìm ra làng. Bởi làng
xưa cách Xốp Nghét ngày nay chừng 70 cây số. Việc di chuyển do tập quán du canh
du cư, hoàn cảnh chiến tranh cùng nhiều nguyên nhân khác.
Ông A Thảo, phó bí thư Đảng ủy xã Xốp,
cũng dẫn lời các cụ ngày xưa cho rằng giai đoạn chiến tranh, người Tà Rẻ (của
cụ A Mết) sống cách địa điểm hiện nay rất xa, sau đó chuyển đến khu vực suối
Nước Rùi giáp vùng núi các xã Mường Hoong và Ngọc Linh (cùng huyện Đắk Glei)
sinh sống.
Mấy chục năm trước, họ lại tách ra, một
nhóm chuyển về ven suối Đắk Nghét lập làng Xốp Nghét. Số ở lại thì nay là làng
Xốp Dùi...
Bên chiếu rượu lừng thơm mùi đại ngàn, tôi
trò chuyện với A Mếp, người con trai thứ của cụ Mết đang sống trong căn nhà nhỏ
ven bờ suối Đắk Nghét.
Mếp nói mẹ mình là Y Rinh, năm 1960 được
cha mình cưới làm vợ hai và sinh ba người con đều sinh sống ở làng Xốp Nghét.
A Mếp vừa chỉ đám người đang đứng chuyện
trò, vừa giới thiệu về ba người con của mẹ mình: "Đây là Y Bang, chị gái
mình có hai người con. Mình là con thứ hai của mẹ, cũng có được hai đứa. Sau
mình còn có em trai là A Phim, hắn đẻ bốn đứa con".
Cũng theo lời A Mếp, sau khi mẹ anh mất,
cha Mếp lấy vợ ba là Y Múi, sinh thêm em trai A Rơn. Y Múi cũng đã qua đời và A
Rơn đang sống cùng vợ con ở làng Xốp Dùi, cách Xốp Nghét chừng 3 cây số. A Mếp
tâm sự toàn bộ con cháu cụ Mết sống ở xã Xốp không ai làm cán bộ, tất thảy đều
gắn với vườn rẫy...
Con cháu A Mết dưới tán rừng xà nu - thông ba lá - Ảnh: THÁI LỘC
Lễ vật hôn nhân
Từ trước đến nay, vài ý kiến cho rằng xà
nu chính là cây thông ba lá - loại cây tự nhiên từng mọc bạt ngàn trong không
gian truyện ngắn Rừng xà nu.
Trong khi một số ý kiến khác lại cho rằng
tên gọi ấy không chính xác, thậm chí có tác giả sau chuyến thực địa đã nghi ngờ
nhà văn... bịa chuyện.
Ông A Thảo, phó bí thư Đảng ủy xã Xốp,
khẳng định tên gọi xà nu của nhà văn có liên đới với cách gọi loại cây thông ba
lá của người Giẻ Triêng.
"Người Giẻ Triêng gọi cây thông ba lá
khi còn sống là loong xinu, khi đã chết thành củi rồi thì gọi là xinu. Cây xinu
ngày nay ít đi chứ ngày xưa cả rừng bạt ngàn" - ông Thảo kể thêm xưa kia
trong rừng sâu không lấy đâu ra dầu, người ta lấy sợi kim loại cuộn 2-3 vòng
treo giữa nhà rồi đặt mấy thanh xinu, đốt lên thắp sáng cho cả nhà.
Khi trai gái thành vợ thành chồng thì xinu
không thể thiếu trong quà biếu của nhà gái "đáp lễ" cho nhà trai.
Trong khi đó, một "nhánh" của
Giẻ Triêng là người Tà Rẻ lại gọi cây thông ba lá là t’nủ, cũng là lễ vật nên
vợ chồng.
Ông Đinh Như Rươn diễn giải rành mạch
phong tục hôn nhân người Tà Rẻ của mình. Rằng thịt chuột núi vẫn là thứ quan
trọng nhất trong hôn nhân, phải cho đôi lứa ăn mới thành vợ chồng, mới được
động phòng.
Song t’nủ là thứ không thể thiếu trong số
quà biếu nhà gái đáp lễ nhà trai khi cưới hỏi. Tục truyền từ xa xưa theo câu
ca: "Con đi trước t’nủ theo sau".
Ông Rươn say sưa kể về dịp cưới gần đây
của người cháu gái Y Tuyết gọi ông bằng cậu, tức cháu ngoại cụ Mết. Khi Y Tuyết
về nhà chồng, phía nhà trai đưa sang rất nhiều sính lễ, gồm mấy chục cái gùi,
giỏ và nia tre, nhiều thịt, cá suối, heo, bò, bột ngọt và muối...
Về phía nhà gái, từ cả tháng trước già trẻ
kéo nhau lên núi cao tìm chặt gần 100 khúc t’nủ dài hơn nửa mét đem về phơi
khô. Số t’nủ kia trở thành lễ vật của nhà gái hồi đáp cho nhà trai, kèm mấy
chục bó củi dẻ, gạo xay, bánh nếp, măng rừng, củ kiệu và một số loại cây gia
vị.
"Khi có t’nủ rồi, nhà trai mới tổ
chức tiệc cưới. Số t’nủ ấy, sau được nhà trai chia đủ cho anh em họ hàng, chẳng
khác nào sự thể hiện chung vui của cả dòng tộc" - ông Đinh Như Rươn diễn
giải.
Và loài cây bạt ngàn trong truyện Rừng xà
nu nổi tiếng là thế, vừa gần gũi vừa linh thiêng với tộc người sơn cước...
Nghe hỏi "Cô bé nhà bên" là ai?
Nhà thơ Giang Nam bất ngờ nói: "Đó là vợ tôi". Và câu thơ "đau
xé lòng anh chết nửa con người" trong bài Quê hương đã chảy máu con tim
như thế nào?
Lửa
tình yêu
"Thông ba lá người Giẻ Triêng gọi là
xinu, dùng để chụm lửa và thắp sáng ban đêm cho người dân. Khi đôi trai gái lấy
nhau thành vợ chồng, nhà gái dùng xinu làm quà biếu đáp lễ cho nhà trai. Nhưng
chỉ những cây thông ba lá nào chứa hàm lượng nhựa nhiều, khi khô mới gọi là
xinu. Không phải cây thông nào cũng gọi tên như vậy" - ông A Thảo, phó bí
thư Đảng ủy xã Xốp, tâm sự.
NGÀY HIỆN TẠI
Total Pageviews
NHÀ KHỞI NGHIỆP - NHÀ KINH DOANH - TÁC GIẢ - NHÀ SÁNG TẠO - NHÀ VĂN HÓA (*)
ĐỌC NHIỀU
DANH MỤC
- Các bước xuất bản sách
- cách xuất bản sách
- Con Người
- công ty xuất bản sách
- ĐÀO TẠO
- Đất Nước
- Làm thế nào để xuất bản sách
- muốn xuất bản sách
- quy trình xuất bản sách
- tác phẩm để đời
- Tập Thơ
- Thiên Anh Hùng Ca
- Thơ
- Thư gửi Tác giả
- tự xuất bản sách
- Việt Nam
- viết sách
- viết sách và thành công
- viết sách và xuất bản sách
- xuất bản cuốn sách của riêng bạn
- xuất bản sách
- xuất bản thơ
Copyright ©
"TỰ DO THỜI GIAN - NHỮNG CÂU CHUYỆN CUỘC ĐỜI" | Bản quyền thuộc về DANH NHÂN VĂN HÓA - HOÀNG GIA
Danh nhân Văn hóa - Hoàng Gia
Danh nhân Văn hóa - Hoàng Gia






